Kinh dịch - Y dịch

Kinh dịch - Y dịch
Lý luận của CCLK dựa trên nền tảng của học thuyết âm dương và kinh dịch vì thế, việc tìm hiểu về kinh dịch để áp dụng trong việc dưỡng sinh, phòng bệnh , trị bệnh và tiên lượng là việc làm cần thiết và thiết thực.

Y LÝ - KINH DỊCH

Người xưa thường nhắc “Bất học dịch bất khả tri y ” có nghĩa là: không học về kinh dịch thì không hiểu y lý. Kinh dịch không nói đến bệnh, không nói đến thuốc, không nói đến phủ tạng của người, không nói đến kinh lạc, không nói đến huyệt đạo … thế thì học y biết dịch là lẽ vì sao?

Vào thời cổ đại, vào những buổi bình minh của loài người, con người sống cùng thiên nhiên với bộ não đặc biệt của mình, con người luôn luôn muốn tìm hiểu về nguồn gốc của chính mình cũng nguồn gốc của những gì đang diễn ra xung quanh mình. Những câu hỏi như “ tôi là ai , từ đâu đến?” , “ tại sao tôi lại tồn tại giữa những thứ này?”, “ tương lai của tôi và của mọi vật sẽ ra sao?”…Những câu hỏi như vậy có rất nhiều, chúng luôn thường trực trong trí óc của loài người và với bản tính tò mò của tâm trí được trợ giúp bở cấu tạo đặc biệt của bộ não, con người bước vào con đường tìm hiểu về bản thân mình và thế giới xung quanh.

Vũ trụ quan phương đông là phương pháp quan sát vạn vật trong sự biến đổi của không gian ( vũ ) và thời gian ( trụ ). Khi quan sát theo không gian, người ta sử dụng cách quy nạp đồng dạng. Khi quan sát theo giời gian người ta sử dụng cách quy nạp tương ứng. Những giá trị đồng dạng và tương ứng là những gia trị cơ bản để thiết lập nên các quy luật để giải thích về sự hình thành và vận hóa của vạn vật.

Chúng ta biết rõ quy luật hoá sinh trong trời đất là lấy hai khí âm dương mà hoá sinh muôn vật, cái lẽ sống của con người là lấy hai khí âm dương vận hành trong kinh lạc mà nuôi sống mọi nơi và phủ tạng, người ta là bẩm thụ khí âm dương của trời đất. Phát minh về sự huyền diệu của âm dương động tĩnh trong trời đất không sách nào rõ ràng bằng Kinh dịch. Vì vậy không học dịch thì sao hiểu được Y

Hải Thượng Lãn Ông, danh y nước ta thế kỷ XVIII đã nói “Hãy học Kinh dịch rồi mới nói đến chuyện làm thuốc”. Còn ngày nay có thêm câu: “ hãy học kinh dịch thì mới sống vui, sống khỏe và hạnh phúc” . Học Kinh dịch rồi mới nói đến chuyện chữa bệnh nghĩa là học về quái, tượng , hào tử để nắm lấy qui luật mâu thuẫn thống nhất của âm dương, cái đầu mối tiêu hao hay phát triển của tạo hoá. Đồng thời hiểu rõ quy luật ngũ hành sinh khắc chế hoá , hiểu rõ quy luật của lục khí tương sinh và phản sinh để biết được hiện tượng bĩ cực thái lai.

Tôn Chân Nhân nói “Không biết Kinh dịch thì không thể nói được là thầy thuốc giỏi” Kinh dịch luận về khí hoá, khí hoá đã tạo nên vũ trụ hữu hình. Từ vô cực hình thành thái cực, thái cực hình thành lưỡng nghi, lưỡng nghi hình thành tứ tượng … cho đến khi tất cả sự vật hình thành. Con người bẩm thụ được toàn khí của trời đất, tứ khí của ngũ hành, con người là cái tâm của thiên địa .Các nhà Y học thời xưa,học thuyết Thiên – Địa – Nhân đã cho rằng những định luật chi phối vũ trụ cũng đồng thời chi phối con người. Vì vậy triết lý về dịch có mối quan hệ và ảnh hưởng sâu sắc tới Y học cổ truyền.

Dịch có thái cực sinh ra lưỡng nghi , lưỡng nghi sinh ra tứ tượng, tứ tượng sinh ra bát quái, trời trên đất dưới định rõ càn khôn , cao thấp đã bày thì quý tiện có vị trí. Động tĩnh có qui luật thì phân biệt rõ cương nhu . Nhiều chủng loại phát sinh thì lành dữ tốt xấu cũng theo đó mà sinh.

Ở trời thành tượng, ở đất thành hình, càn khôn có vị trí thì sự biến dịch vận hành ở quãng giữa, cho nên trời đất sinh ra thần ra vật, thánh nhân tìm hiểu sâu vào đó. Trời đất vận động thánh nhân bắt chước theo đó. Trời buông ra hình tượng xuất hiện sự lành dữ, thánh nhân theo vào hình tượng đó. Có Hà Đồ, có Lạc Thư thánh nhân theo vào đó rồi thì tìm hiểu ở vạn vật mà vạch ra bát quái để thông cái đức của thần minh , để thuận cái lẽ của tính mệnh . Bát quái vạch xong là đã có hình tượng ở trong đó, rồi lại gấp đôi lên các hào sinh ra ở trong đó, cương nhu cọ vào nhau, bát quái lay động vào nhau sự biến hoá đã có trong đó. Tất cả đều không ra ngoài sự biến dịch.

Người ta bẩm thụ hai khí âm dương tức là lục khí của trời và tinh hoa ngũ hành của đất, linh nhất trong muôn vật, được khí trung hoà của trời đất hợp với sự hoá dục của càn khôn, tứ tượng ứng với trời, tứ thế  ứng với đất. Sự mở đóng của trời đất là sự mở đóng của người ta, nước thuỷ triều lên xuống tức là mạch đập của người ta. Sao bắc thần của trời là gốc của mọi sự vận động, quả tim của con người là chủ của toàn thân. Xem đó thì biết khí của trời tức là khí của người, thể âm tức là thể của người. Triệu Khang Tiết nói “sự giao tiếp với nhau giữa trời với người là rất tinh diệu, thật là đáng sợ”. Thân thể người ta là một trời đất nhỏ, thật không có khoảng cách xa 1 ly, vậy thì cái lý của trời đất có đủ ở dịch, thì cái lý của thân tâm người ta không đầy đủ ở dịch hay sao?

Huống gì dịch của trời đất là dịch ở người, dịch của thân tâm người ta là dịch ở trong, trong ngoài ai thân hơn, trời người ai gần hơn. Cho nên cần phải tìm ở trời trước rồi sau mới tìm ở người, ở trong trước rồi mới đến ngoài, thế thì dịch của vật lý còn có thể từ từ mà dịch của thân tâm không bỏ qua được. Làm nghề Y là dịch ở thân tâm, y mà không biết dịch thì làm sao mà hành nghề được”.

Qui luật biến hoá là vô cùng mà vạn sinh ở 1, 1 chia thành 2, 2 chia thành 4, 4 chia thành 8, 8 chia thành 16, từ 16 đến 32, 32 đến 64, cho đến 384 hào, 11 520 biến động thì sự huyền diệu của giao cảm, cơ chế của sự hoá sinh, cái số của vạn vật đều từ đó mà ra. Nói rõ ra thì cái gọi là 1 là thái cực của dịch. Thái cực vốn là vô cực, vô cực tức là thái cực, tướng số chưa hình hiện đã có đủ cái lý rồi, hư không mà hoá khí, từ khí để tạo nên hình đó là cái gốc ban đầu của 1 khí tiên thiên”. Thầy thuốc mà biết rõ như thế, thì biết sự sinh hoá là có nguồn gốc mà tất cả ở thân thể chúng ta khi chưa có cơ sở ban đầu được xây dựng nên ở cha, mẹ, để biết mà xem ngay vào hình tượng của sự bẩm thụ.

Nói 1 phân chia thành 2 là sinh lưỡng nghi, thái cực động mà sinh dương, tĩnh mà sinh âm, thiên sinh ở động, địa sinh ở tĩnh, dương là phối ngẫu với âm, âm là nền móng của dương, lấy nguyên chất mà nói là trời đất, lấy công dụng mà nói là càn khôn, lấy đạo lý mà nói là âm dương , một động một tĩnh làm gốc rễ lẫn nhau chia ra âm, chia ra dương là thành 2 phía đối đãi nhau thế là bắt đầu có tượng. Nhân hình để tụ khí, nhân khí để hoá thần, mà làm nên cái gốc ban đầu của thể tượng hậu thiên .Thầy thuốc mà biết điều đó, thì biết được âm dương khí huyết đều có chỗ chung đúc nên.

Nói 2 thành 4 là lưỡng nghi sinh tứ tượng tức là bắt đầu động là dương sinh, động đến cực độ thì âm sinh, bắt đầu tĩnh thì nhu sinh, tĩnh đến cực độ thì cương sinh. Thái âm, thái dương, thiếu âm, thiếu dương là tứ tượng của trời, thái thiếu cương nhu là tứ tượng của đất . Tai, mắt, miệng, mũi để ứng với trời. Huyết, khí, xương, thịt để ứng với đất. Thầy thuốc mà biết rõ lẽ là trong dương có âm, trong âm có dương thì hiểu được những trường hợp giống như dương mà không phải dương, giống như âm mà không phải âm; có thể từ đó mà biết được chân, giả, nghịch, thuận để xét ra chỗ ẩn, hiện tàng giữ lẫn nhau.

Nói 4 phân thành 8 là tứ tượng sinh ra bát quái tức là: Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8. Càn là mạnh mẽ, Khôn thì thuận theo, Chấn là động, Tốn là vào, Khảm là sa xuống, Ly là tốt đẹp, Cấn là dừng lại, Đoài là vui vẻ. Thầy thuốc mà biết rõ được điều đó, mới biết được trong âm dương lại có âm dương, trong cương nhu lại có cương nhu. Vậy thì cái thế đối đãi, cái lẽ tiêu trưởng, sự huyền diệu của giao cảm là rõ ràng đầy đủ, thì về tính, lý, thần , cơ , hình, tĩnh , bệnh trị của người ta có thể nhân đó mà biết được, điều cốt yếu là thông suốt được nhiều cách biến hoá. Từ đó tứ tượng giao nhau thành 16 việc, bát quái lay động vào nhau mà thành 64 quái.

Lấy hào, tượng mà xét thì dương của trời đất, lấy số 6 làm chừng mực, 2 lần của tam tài thành ra sáu hào. 6 hào dương, 6 hào âm thành 12 hào cho nên trời có 12 tháng, người có 12 tạng phủ. Trời có 6 khí, kinh mạch có 6 huyệt lục lục khí.